Nếu là bầy cừu, bạn sẽ lựa chọn sói hay sư tử?

p5991521a640631973-675x400
Bầy cừu phải chọn sống chung với một loài động vật nào đó, chúng có hai lựa chọn: ? Đại đa số mọi người đều lựa chọn sai!

Thượng đế đã an bài cho hai bầy cừu sống trên thảo nguyên, một bầy sống ở phía Nam, một bầy sống ở phía Bắc.

Thượng đế còn cho hai bầy cừu tự tìm kiếm hai loại kẻ thù tự nhiên (thiên địch) – một là sư tử, một nữa là sói.

Thượng đế nói với bầy cừu rằng:

“Nếu như các ngươi chọn sói thì ta sẽ cấp cho các ngươi một con và nó có thể tùy ý cắn giết các ngươi. Còn nếu như các ngươi chọn sư tử thì sẽ cấp cho các ngươi hai con, các ngươi có quyền lựa chọn sống cùng một con trong chúng và tùy thời điểm mà hoán đổi”.

Vấn đề đặt ra trong câu chuyện này là: Nếu như là bạn, thì bạn sẽ chọn sói hay chọn sư tử?

Rất dễ dàng để lựa chọn phải không nào?

Lựa chọn xong rồi, bạn hãy nhớ kỹ lựa chọn của mình và đọc tiếp.

Bầy cừu ở phía Nam nghĩ rằng, sư tử thì hung mãnh hơn sói rất nhiều, hay là chúng ta chọn sói đi! Thế là, chúng chọn một con sói.

Bầy cừu ở phía Bắc nghĩ rằng, mặc dù sư tử hung mãnh hơn sói rất nhiều, nhưng chúng ta lại có quyền được lựa chọn, hay là chúng ta chọn sư tử đi! Thế là chúng chọn hai con sư tử.

Ở phía Nam, sau khi sói tiến vào bầy cừu, nó liền bắt đầu ăn thịt chúng.

Thân thể sói nhỏ, sức ăn cũng nhỏ, cho nên một con cừu cũng đủ cho nó ăn mấy ngày. Và như thế, bầy cừu vài ngày mới bị truy đuổi một lần.

Bầy cừu ở phía Bắc chọn một con sư tử, con còn lại được lưu lại ở nơi của Thượng đế. Sư tử sau khi tiến vào bầy cừu, nó cũng bắt đầu ăn chúng. Sư tử không những hung mãnh hơn sói, mà sức ăn của nó cũng kinh người. Mỗi ngày nó đều phải ăn một con cừu. Như vậy, bầy cừu ngày ngày bị truy sát nên cũng vô cùng hoảng loạn.

Bầy cừu phía Bắc đã vội vã xin Thượng đế đổi con sư tử kia. Nhưng thật không ngờ rằng, con sư tử kia khi lưu lại chỗ Thượng đế đã không hề được ăn gì, đói khát không chịu được, nên đã nhào vào bầy cừu mà cắn giết còn điên cuồng hơn con lúc trước.

Bầy cừu phía Bắc suốt ngày chỉ lo trốn chạy để khỏi chết, ngay cả cỏ cũng không kịp ăn.

Bầy cừu phía Nam may mắn khi đã lựa chọn đúng kẻ thù thiên địch, lại cười nhạo bầy cừu phía Bắc không có con mắt tinh tường khi lựa chọn.

Bầy cừu phía Bắc thấy hối hận vô cùng và thống thiết kể khổ với Thượng đế, cầu mong được thay đổi thiên địch – đổi thành sói.

Thượng đế nói: “Một khi đã lựa chọn thiên địch rồi thì không thể thay đổi được, nhiều đời sau cũng phải tuân theo, các ngươi chỉ có quyền lợi duy nhất là ở cùng hai con sư tử đã lựa chọn đó mà thôi”.

Bầy cừu phương Bắc đành phải không ngừng hoán đổi chung sống với hai con sư tử.

Nhưng hai con sư tử đều hung tàn như nhau, hoán đổi con nào thì cũng bị thê thảm hơn bầy cừu phương Nam rất nhiều. Chúng dứt khoát không hoán đổi nữa, khiến cho một con ăn đến béo mập, cơ thể cường tráng, con còn lại tắc thì bị đói bụng đến gầy còm.

Khi con sư tử gầy đói kia sắp chết, bầy cừu liền lên Thượng đế xin đổi sang ở cùng với nó.

Con sư tử gầy trải qua thời gian dài đói khát dần dần hiểu ra một đạo lý: Bản thân tuy hung mãnh phi thường, 100 con cừu cũng không là đối thủ, nhưng vận mệnh của nó là nằm trong tay bầy cừu điều khiển. Bầy cừu bất cứ lúc nào cũng có thể đưa nó trở về chỗ Thượng đế, cho nó chịu đủ sự dày vò, hành hạ của đói khát, thậm chí có thể bị chết đói.

Sau khi nghĩ thông suốt đạo lý đó, con sư tử gầy gò đối xử với bầy cừu rất khiêm nhường, nó chỉ ăn con cừu chết hoặc con cừu bị bệnh, mà không ăn con cừu khỏe mạnh nào nữa.

Bầy cừu mừng rỡ, có mấy con cừu nhỏ muốn đề nghị ở cố định với con sư tử gầy, không muốn con sư tử mập kia nữa.

Một cừu già liền nhắc nhở: “Con sư tử gầy này là sợ chúng ta trả nó lại nơi Thượng đế để nó chịu đói chịu khát nên mới đối tốt với chúng ta như thế. Nhưng ngộ nhỡ con sử tử mập kia chẳng may chết đói thì chúng ta sẽ không có sự lựa chọn nào nữa, vì con sư tử gầy này sẽ rất nhanh chóng khôi phục lại bản tính hung tàn của nó”.

Bầy cừu cảm thấy con cừu già nói rất có lý, vì không muốn cho con sư tử mập kia chết đói, chúng vội vàng đổi nó về sống cùng.

Con sư tử béo tốt trước kia bây giờ cũng đã đói bụng đến nỗi chỉ còn lại da bọc xương, hơn nữa cũng hiểu được đạo lý rằng số mệnh của mình là nằm trong sự điều khiển của bầy cừu. Để có thể sống trên thảo nguyên lâu hơn nữa, nó lại tìm mọi cách để nịnh nọt bầy cừu. Còn con sư tử bị trả về nơi Thượng đế kia khổ sở đến chảy nước mắt.

Bầy cừu phía Bắc sau khi đã trải qua trùng trùng điệp điệp những trắc trở, cuối cùng chúng đã vượt qua và sinh sống tự do tự tại.

Tình cảnh của bầy cừu phía Nam thì càng ngày càng bi thảm, con sói kia vì không có đối thủ cạnh tranh, bầy cừu lại không có cách gì thay thế nó, nó lại được thể làm xằng làm bậy. Mỗi ngày đều muốn cắn chết mấy chục con cừu, con sói từ sớm đã không thèm ăn thịt cừu nữa, nó chỉ uống máu của cừu, còn không cho phép con cừu nào được kêu. Con cừu nào mà kêu thì sẽ bị nó cắn chết ngay lập tức.

Bầy cừu phía Nam lúc này chỉ có thể than thở trong lòng: “Sớm biết như thế này, chi bằng lựa chọn hai con sư tử còn hơn!“

Bạn đã lĩnh hội được đạo lý chưa?

Bạn muốn được sống một cuộc đời vui vẻ thoải mái, thì ngoài khả năng mạnh yếu bên ngoài ra, còn cần tự mình “nắm giữ quyền quyết định” cũng là yếu tố vô cùng quan trọng đấy!

 Theo thời báo: vietdaikynguyen.com

Hành trình của tự do…

Bản thân tôi yêu thích việc đi đến những vùng đất chưa từng đặt chân như một sự tận hưởng thú vui sống. Qua những miền đất lạ tôi tìm thấy sự bình thản và tươi mới trong tâm hồn. Mỗi lần đi là một lần trải nghiệm văn hóa, thu thập kiến văn. Tôi cho rằng việc thu hoạch nhiều hay ít, tùy thuộc vào mục đích của việc đi, khả năng quan sát và cảm nhận của từng người.

Tôi thích đi một mình. Lý do rất đơn giản, khi có bạn đồng hành, mọi hành động phải có sự đồng thuận và dễ bị phân tán bởi sự tương tác nhiều mặt; hơn nữa tôi lại thích buông hành trình của mình theo cảm hứng.

Đến thành thị tôi thích lang thang khắp các khu phố; người ta hối hả, tôi thong thả nhưng nhiều suy tưởng.

Về với những miền quê, miền hoang vắng, tôi lại muốn nô đùa như gió, đắm mình với thiên nhiên.

Chỉ có ở giữa thiên nhiên tôi mới trút sạch được những vướng bận, những nặng nề. Thiên nhiên là người mẹ, người thầy, người bạn, người yêu dấu của tôi. Yêu thiên nhiên tôi biết yêu những điều khác biệt, tôi biết hạn chế những tội lỗi ngốc xuẩn của con người.

Bạn thấy đấy, trong khi tự nhiên vẫn không ngừng kiến tạo ra hàng triệu giống loài, cảnh sắc thì con người chưa lúc nào thôi miệt thị và bắn giết nhau bởi sự khác biệt sắc tộc, tôn giáo, xuất thân, giàu nghèo, hình thể…; thật ngu xuẩn và tầm thường. Chúng ta tự trói buộc mình bằng những thể chế, chuẩn mực, quy phạm…; cầm tù ngay cả ý nghĩ bằng sự tự đại và những định kiến.

anh-dep-nu-hoa-mua-xuan-0-1

    “Mọi lý thuyết đều là màu xám, chỉ cây đời là mãi mãi xanh tươi” (Goethe).

Con người ai cũng có nhu cầu cơ bản về thức ăn, nơi cư trú, sự an toàn và yêu thương. Chúng ta đều khát khao hạnh phúc và muốn tránh những khổ đau. Mỗi người trong chúng ta đều trải qua những cảm xúc: niềm vui, hi vọng, sợ hãi, mất mát, đau đớn…; Chúng ta đều mong muốn những điều tốt đẹp với gia đình, bạn bè và những người chúng ta yêu quý… Nhân sinh hoàn toàn không có sự khác biệt ở mọi sắc tộc, nền văn hóa, tôn giáo; bất chấp giai tầng, thể chế chính trị xã hội, không gian và thời gian.

Những chuyến đi giúp tôi khẳng định sự tôn trọng nhân sinh và những giá trị đẹp đẽ trường tồn của con người: tình cảm ruột thịt, tình cảm lứa đôi, bạn bè, sự hướng thiện, hành động vì chính nghĩa…

Và từng bước trên cuộc hành trình ấy, tôi dần cởi trói cho tư duy, cho tình yêu… và tìm thấy tự do.

Dạo hoa Đà Lạt

Một ngày tôi lang thang khắp các thung lũng hoa Đà Lạt, đi đến mỏi mệt, repeat bài hát “Niềm đau chìm xuống” – máy hát, người hát. Đây là giai đoạn nhiều rối ren nhất của cuộc đời tôi. Thung lũng hoa vắng vẻ, trời se lạnh, nắng và gió trời ào ạt qua những tàng cây làm cho không gian nhuốm một sắc cô liêu… Lạ lùng, không khiến tôi cảm thấy tâm trạng đi xuống, ngược lại càng làm tôi thấy thoải mái với sự cô đơn của mình. Tôi chậm rãi nhấm nháp, thấm thía và suy tưởng về nó.

Khi một mình đối diện với nỗi cô đơn người ta mới thấu rõ thân phận con người trên mặt đất, những gì đã qua, những gì phía trước không còn ý nghĩa nữa. Khoảnh khắc chỉ có cái tôi trần trụi với thế gian vô thường, khoảnh khắc ta được nhìn nhận con người mình một cách sâu sắc nhất, không bị nhiễu loạn bởi những giấc mơ hoa, những chuẩn mực, những giá trị của ta – của người; không sợ hãi, không luyến ái.

Số phận con người nỗi đau nào là tận cùng, khó có thể so đo.

Người ta ác mà không biết mình ác do vô tri, người ta cố ý ác do ích kỷ. Trong kiếp sống của mình tôi đã cố gắng bằng mọi khả năng và sự nhạy cảm của bản thân để tránh làm một người vô tri, gây tổn hại đến người khác một cách vô thức. Nhưng tôi quá nhỏ bé trong thế gian đầy bạo lực – đầy rẫy những kẻ cố ý gây tổn thương cho người khác chứ đừng nói là do vô ý – và tôi bị thương, tôi đang tự chữa lành cơn đau cho mình bằng cô đơn.

…. 20131126_111504“Xin đưa sầu lên khua khoắng cho niềm đau chìm xuống đáy”

Tôi biết cơn đau nào rồi cũng qua, như mọi cảm xúc của đời sống.

Những cơn đau của riêng tôi, cũng sẽ trôi theo tháng ngày.

Huế mùa mưa

Bão số 14 – Huế 2013

Tôi vốn không có thói quen chọn thời tiết để đi. Vì trải nghiệm văn hóa sống không cần đến một điều kiện thời tiết thuận lợi.

Đến Huế vào đúng dịp bão số 14 đổ bộ, những con đường ngập lụt, Huế càng trầm buồn. Tôi và mưa vốn quen thuộc, chẳng có gì đáng ngại để hủy chuyến đạp xe dạo quanh thành phố.

Huế làm tôi cảm khái bởi “vô thường” hiện hữu khắp không gian.

Nơi những tường thành sừng sững giờ đây không đủ để che dấu tro tàn của xa hoa quyền quý bậc nhất xưa kia.

Lăng tẩm hay những nấm mồ hoang thì bên dưới cũng là cát bụi.

Còn tôi và những kiếp sống đang lấp mình mưu sinh dưới làn mưa trắng trời vẫn mải miết đi hết định mệnh cuộc đời.

Một chiều mưa Huế, ngồi ru mình trong không gian của một quán nhỏ thơ mộng, ca Huế văng vẳng xa xưa, cà phê đậm đà, chỗ ngồi ấm cúng nghe mưa. Tôi rơi vào cõi mơ ảo của lòng tôi, không đớn đau mộng mị …

Sự lựa chọn khi hãnh diện hay xấu hổ?

Vài bạn đọc gởi đến tôi một bài viết có tựa đề là, “Đâu Là Nơi Duy Nhất Người Việt Nam Không Bị Khinh Bỉcủa một tác giả Việt Kiều. Sau khi chu du khắp thế giới và chịu đựng những khinh miệt vì lỡ “làm” người Việt, kể cả ở VN nơi mà các ông bà ba lô Mỹ trắng được yêu chuộng hơn, tác giả mới khám phá ra nơi duy nhất mà người Việt không bị khinh miệt là xứ Mỹ.

Bài viết chứa đựng những chi tiết khá chuẩn xác và phổ thông, mà mọi người đều đã cảm nhận không ít thì nhiều khi tiếp cận với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, tôi lại cho rằng những vụ việc kể lại có thể nhìn qua một lăng kính khác, mà không cần đem yếu tố dân tộc liên quan vào.

Cho tôi vắn tắt: những khinh khi rẻ rúng mà các bạn Việt thường xuyên gặp phải, vốn bắt nguồn từ những nguyên nhân đơn giản trong đời sống hàng ngày của nhân loại qua nhiều thời đại; chứ không phải là một hiện tượng đặc thù của dân tộc ta.

Tự hào ngược đời

Tuy nhiên, trước khi phân tích các yếu tố này, tôi muốn ghi nhận một nghịch lý (có lẽ là một phản ứng thì đúng hơn). Đó là càng bị chê bai khinh thị, con người càng bị tự ái làm mờ mắt và “chảnh” hẳn ra, ngôn ngữ thời đại gọi là “lòng tự hào” đi quá đà về mặt tâm thần (đến tận đỉnh cao). Thắng được một giải bóng đá do hãng bia địa phương tổ chức là sẵn sàng để vào chung kết với Brasil trong World Cup năm tới. Vừa được 2, 3 tờ báo lề phải gọi là siêu sao (mà mình phải bỏ tiền cho chúng viết) là mang niềm tin chắc nịch về vương miện Miss Universe đang thiết kế cho mình. Tôi còn nhiều thí dụ rất thú vị, nhưng dành cho các BCA “còm” chơi, và cũng vì không muốn chạm tự ái của ai.

Một yếu tố khác mà tác giả ghi nhận là chỉ có ở xã hội Mỹ, con người Việt của ông mới không hề bị xúc phạm. Thực ra, trong một quốc gia luôn thượng tôn pháp luật như tại Mỹ, việc kỳ thị chủng tộc là một hành vi phạm pháp. Thêm vào đó, từ hồi luật nhân quyền (civil rights) được ban hành (1964), xã hội Mỹ đã biến cải rất nhiều trong tâm thức người dân về chủng tộc hay tôn giáo. Khi dân Mỹ chọn Obama làm Tổng Thống, gần như trang sử Mỹ về kỳ thị mầu da coi như đã khép lại. Nhưng không có nghĩa là người dân Mỹ không kỳ thị.

Mặc dù cảnh sát Mỹ luôn gọi mọi người là “sir” (ngài), các tội phạm vẫn thường xuyên bị dùi cui mỗi khi “khó bảo”. Trong mắt nhân viên công lực Mỹ, tỷ lệ phạm pháp của dân da đen hay dân gốc Mễ rất cao, do đó đây là thành phần cần được nhắm tới (targeted) trong công vụ hàng ngày. Họ hoàn toàn không kỳ thị chủng tộc (một bộ phận không nhỏ lập gia đình với người Mỹ đen hay gốc Mễ), nhưng cách đối xử của họ với dân đen hay gốc Mễ chắc chắn là “rough” so với một anh chị Mỹ trắng.

Việt cồ hay vịt con?

Quay lại những yếu tố mà tôi cho là làm người Việt cảm thấy bị khinh miệt, tôi có thể suy ngẫm ra…vài điều sau đây. Xin nói rõ là trong bài “phiếm luận” này, tôi không hề vơ đũa cả nắm; bởi vì những thành quả vẻ vang của nhiều cá nhân Việt là một sự kiện không ai chối bỏ.

1.      Nghèo là một cái tội

Dĩ nhiên, nghèo không phải là một “tội”; nhưng gần như khắp thế giới, nghèo vẫn bị coi như là “đáng xấu hổ”. Cái thước đo “nhân cách” con người, tốt hay xấu, thiện hay ác, không liên quan đến chuyện giầu nghèo, nhưng nhân loại vẫn thích đem yếu tố này vào để xác định. Do đó, nếu đã đồng ý là “dân giàu nước mạnh” thì đừng ngạc nhiên khi các quốc gia và dân tộc láng giềng cho chúng ta là “dưới kèo” vì cái con số GDP mỗi đầu người không dấu ai được.

Ông bà ta có dậy rằng “nghèo cho sạch, rách cho thơm” nhưng nếu chúng ta mở rộng đầu óc hơn để tập làm “giàu mà sạch, lành mà thơm” thì chúng ta đã có thể thay đổi khá nhiều cho nhân cách và giá trị của con người Việt.

2.      Kiến thức tụt hậu và suy thoái

Rất nhiều bạn trẻ khi lập gia đình hỏi tôi về điều kiện bền vững nhất trong một hôn nhân về lâu về dài? Tôi nói,” đừng bao giờ lấy một người ngu…nhất là khi người ngu ấy rất “kiên định” về lập trường ngu của mình…”. Tình yêu, sắc dục, tiền bạc, danh giá và ngay cả nhân cách có thể bị phai mờ biến thể…nhưng kiến thức thì ngàn đời. Nhất là trong thời buổi của tiến bộ vượt tốc…những gì nhân loại nắm biết trong 50 năm vừa qua nhiều hơn cả 5 ngàn năm trước đó.

Khi tóc đã điểm sương, con cái đã rời tổ ấm, của cải danh tiếng đã trôi đi cùng dâu biển…không gì tệ hại hơn là ngồi tỉ tê tâm sự với một cái đầu đất. Do đó, khi các bạn trên thế giới nhìn mình với cặp mắt thương hại …vì một sự ngu dốt tập thể…thì ít nhất cũng nên biết đau xót…thay vì hãnh diện ngược đời.

3.      Thường xuyên phạm luật

Như những nhân viên công lực Mỹ đã bàn qua bên trên, khi họ phải đối diện hàng ngày với những vi phạm pháp luật từ một thành phần dân số, họ sẽ xếp loại nhanh chóng thiểu số này để đối phó cho hữu hiệu. Tại các quốc gia mà “pháp luật nằm trong tay cảnh sát” thì cách đối xử với người Việt quả là có sự khác biệt: các tin tức về nạn ăn cắp tại các cửa hàng bên Nhật; tình trạng trồng và buôn bán ma túy tại Úc và Canada; các tổ chức xã hội đen tại Âu Châu; trốn thuế lường gạt tại Mỹ…là những hành động của thiểu số nhưng mọi người Việt phải trả giá…

Nếu khi đi qua cửa di trú hay hải quan mà bị “chận” lại vì mang hộ chiếu Việt, chúng ta nên hiểu là đồng hương chúng ta phạm luật hơi nhiều, nên các cơ quan công lực phải lưu tâm. Tôi không nghĩ là người Nhật hay Singapore yêu hay ghét người Việt, họ chỉ hành xử theo thói quen mỗi ngày.

4.      Bị ảnh hưởng Trung Quốc quá đậm

Cũng cùng chịu ảnh hưởng của văn minh Khổng Mạnh Lão, nhưng dường như người Việt đồng hóa với người Hán nhiều hơn là các dân tộc Hàn Quốc, Nhật Bản hay Mông Cổ. Thú thực, nếu bịt tai và tình cờ thức giấc tại một tỉnh nhỏ ở miến Bắc, tôi sẽ nghĩ mình đang ở một tỉnh nào bên Trung Quốc. Hiện nay, trên khắp thế giới, các chú “con Trời” không được ái mộ cho lắm vì lối xử sự hơi “nhà quê” dù mang tiếng là công dân của một siêu cường.

Do đó, nếu thiên hạ cho mình là những chú “Mao con”, thì phải ráng mà bắt chuột thôi. Mèo đỏ, mèo đen…mèo gì thì cũng là mèo.

Có thể có những yếu tố khác ngoài 4 yếu tố trên để giải thích sự kiện này. Có thể vì chúng ta nhiều anh hùng quá, nên nhân loại ganh tị và bầy trò thử thách? Có thể vì đất nước này tiền rừng bạc biển, nên nhân loại không chấp nhận để mình “xin-cho” mãi? Dù sao, tôi nghĩ là hiện tượng này còn kéo dài trong vài thập kỹ nữa vì chúng ta rất “kiên định” trong việc xây dựng một thiên đường mới (hay là một nhà thương điên?)

Vẫn do ta chọn lựa

Tôi chỉ xin chia sẻ với các bạn trẻ là đừng bực bội hay thất vọng. Vài chục phút bị rẻ rúng có thể là động lực bắt chúng ta cố gắng nhiều hơn để hoàn thiện bản thân mình. Nghĩ cho cùng, chỉ những anh chị đầu đất mới quan tâm là mình từ đâu “rớt ra”. Chúng ta chỉ nên lưu ý đến những chỗ chúng ta “cho vào”? Vì rớt ra là một tai nạn tình cờ của vài nguyên tử trong vũ trụ. Còn cho vào là một sự lựa chọn hoàn toàn có chủ đích. Chúng ta không được chọn tổ quốc hay gia đình hay nguồn cội; chúng ta chỉ phải chọn nhân cách, kiến thức và thành quả.

Tấm gương mình tự soi mặt mỗi sáng là niềm tự hào hay xấu hổ. Hình ảnh mình trong cặp mắt người khác chỉ là thoáng qua.

T/S Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa – Trích đăng từ http://www.gocnhinalan.com

Sự bất an của chữ

Rất nhiều độc giả yêu mến những trang văn của Trang Hạ hai mươi năm trước đã nói rằng, họ thật sự thất vọng khi đọc Trang Hạ những năm gần đây.

Hai mươi năm trước cái chinh phục tuyệt đối độc giả tuổi 18-20 là những truyện ngắn lãng mạn về tình yêu, những trang viết nhẹ nhàng và thấm thía về cái đẹp của những mối quan hệ nhẹ nhàng, nhiều độc giả còn giữ những mảnh báo cắt lại, đăng tản văn tôi viết về mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông, mùa mưa, mùa gió, mùa thi, mùa Giáng Sinh.

Bây giờ tôi đàn bà hơn và đời hơn, tôi đánh mất phần lớn những độc giả thích những cái đẹp êm đềm óng ả mà tôi đã cần cù lượm họ suốt hơn chục năm viết truyện ngắn, chịu khó chinh phục các giải thưởng văn học, dự trại sáng tác viết văn, náu mình trong những tổ nhóm sáng tác.

 

Cái làm đàn bà gục ngã lại là đám đông và thị phi, là một câu nói bâng quơ, là một lời trêu ghẹo, một cái nhìn ác cảm, bị gọi là gái ế, chồng chê mất trinh v.v… – Ảnh: Thinkstock

Giờ đây mỗi mùa báo Tết, các thư ký tòa soạn lại nhớn nhác hỏi Trang Hạ có cái truyện ngắn nào không? Tôi thường mỉm cười và nói, tôi đã không hề viết văn từ biết bao năm nay rồi! Giờ tôi viết một thứ chỉ mang vỏ bọc văn chương mà thôi, còn cốt lõi hoàn toàn không dính chút gì tới văn chương cả. Tôi đâm ra sợ những người viết văn chỉ lăm lăm viết văn. Có biết vì sao không?

Suốt mười năm trời từ 1993-2003 tôi vẫn nghĩ rằng mình viết cho cả xã hội đọc. Cứ ai có tiền mua sách báo là đều có quyền được đọc hết, đều thành độc giả hết. Tôi có trách nhiệm phải viết văn, hư cấu, thêm cảm xúc, thành một món ăn đặt tên là truyện ngắn Trang Hạ. Tất nhiên tôi có một số giải thưởng văn học cho món truyện ngắn Trang Hạ.

Năm 2005 có một nhân vật báo chí của tôi quay lại xin tôi một lời khuyên. Đó là một người phụ nữ cụt tay, không bằng cấp, nghèo, thất nghiệp, người nhà quê, xấu, ế chồng. Chị ta nói chị ta không tìm được chỗ của mình trong xã hội. Người lành lặn còn thất nghiệp nữa là chị, ở quê người ta đàm tiếu về cánh tay cụt của chị, không ai muốn lấy chị, chị muốn bị người khác lợi dụng cũng chẳng ai thèm lợi dụng, đi ra giếng giặt quần áo bị hàng xóm nói móc vài câu, chị ấy nghẹn ngào ôm chậu quần áo về và khóc, muốn chết vì bế tắc và không có tương lai. Chị nói, chị được nhận mấy chục triệu tiền bồi thường mất cánh tay, chẳng đủ tiền trả viện phí, mà còn bị làng xóm nói đổng là, bán trinh được có mấy triệu đồng, đằng này mất có một tay được hẳn vài chục triệu sao mà sướng thế!

Tôi nói, một là chị phải ra ngay Hà Nội, bán đồng nát hay làm thuê bưng phở, đứng máy photocopy cũng được, còn hơn ở lại quê nghèo không tương lai. Chị ra đây ôn thi một năm rồi thi đại học tại chức, đã không có sức khỏe thì càng phải có tri thức. Chịu nghèo khổ vài năm mà có tương lai sáng sủa của mình còn hơn ở mãi quê cả đời sẽ cúi gằm mặt giữa những thị phi. Tôi cũng nghèo nhưng có cho chị ít tiền đóng học phí thời gian đó. Nhưng trước khi chào bố mẹ ra Hà Nội, chị phải làm cho tôi một việc: Chị sang nhà hàng xóm, bảo họ rằng, có người chỉ cần thấy tí tiền là đào được cả mồ mả ông bà tổ tiên lên, phá chùa trộm chuông, nữa là ao ước mất một cánh tay!

Tất nhiên chị kia chẳng đủ bạo mồm nanh nọc mà sang trả đũa hàng xóm, nhưng chị lên Hà Nội chịu khó luyện thi rồi vào học đại học tại chức, trong thời gian học đại học, chị rất may mắn xin được công việc vào một tổ chức phi chính phủ. Lương cực kỳ thấp nhưng cũng tạm đủ ăn học, và tất nhiên hơn làm đồng trồng vườn ở quê. Vài năm sau, chị lấy một anh cùng quê nhưng cũng đang đi làm nhà nước. Sống được với sự lương thiện.

Tôi bị ám ảnh bởi câu chuyện này suốt vài năm ròng. Hóa ra đàn bà có thể mạnh mẽ đối diện và vượt qua nghèo, khổ, cực, xấu xí, vất vả, hoàn cảnh, bi kịch, nhưng cái làm đàn bà gục ngã lại là đám đông và thị phi, là một câu nói bâng quơ, là một lời trêu ghẹo, một cái nhìn ác cảm, bị gọi là gái ế, chồng chê mất trinh v.v… Tôi thích quan sát buồn vui sướng khổ của cuộc đời. Và vào tuổi ba mươi ba, tôi kết thúc hoàn toàn việc viết văn hư cấu, truyện ngắn, chỉ để dành thời gian viết về đời sống và đàn bà. Tôi tin rất nhiều người đàn bà đọc Trang Hạ xong đã tìm được lý lẽ để đối mặt với khó khăn, lý lẽ ấy là: Bởi vì bạn là phụ nữ, bạn không nên bị đánh gục bởi những thứ không xứng đáng, bạn sinh ra không phải là để cho kẻ khác chà đạp! Chẳng còn ai trao giải thưởng văn học cho Trang Hạ nữa. Vì đơn giản là tôi không còn viết văn đã lâu rồi, tôi chỉ còn viết về con người, càng viết thật càng tốt. Mà viết thật, không thể nào tránh được sự trần trụi.

Nhưng tôi tin rằng, sứ mệnh của người viết văn hoàn toàn không phải là để làm cho những tâm hồn rách nát trở nên yên tâm với sự rách nát của mình!

Trang Hạ – trích đăng từ http://vn.nang.yahoo.com